Artboard 1.png

Tháng 1 - Giã gạo “Ơi à con ngủ cho ngoan để mẹ giã gạo nuôi làng nuôi ta…”

 

“Ơi à con ngủ cho ngoan để mẹ giã gạo nuôi làng nuôi ta…” “Kết thúc mùa gặt đến những ngày con và người dân ta lại được nghe thấy tiếng chày, nhịp giã hoà với tiếng ru của mẹ đung đưa chiếc “nôi địu”.

 

Con có biết các mẹ giã gạo, ru con bên chiếc cối đá đặc biệt, đã được truyền qua nhiều đời của gia tộc ta. Chiếc cối hình đồng hồ cát đặc trưng của dân tộc Mạ chúng ta, ta còn giữ chúng như báu vật. Ước mong lúa chín đầy đồng, mai sau khôn lớn, lưng dài vai rộng con có thể gánh việc nước, lo việc làng, chung xây đời sống đủ đầy ấm no.”

 

TỤC GIÃ GẠO NGƯỜI MẠ

 

Đời sống vật chất và tinh thần của người Mạ rất phong phú và đa dạng, trong đó phải kể đến hoạt động giã gạo trong văn hóa của họ. Cũng giống như một số dân tộc khác, thức ăn của người Mạ là gạo tẻ, gạo nếp ngoài ngô, bí, khoai, sắn, rau và thịt rừng. Trong kho tàng truyện kể người Mạ có những huyền thoại về nguồn gốc sự vật, trong đó dân gian đã giải thích nguồn gốc lương thực, thực phẩm, chẳng hạn các truyện: Lúa, bắp, cà, ớt; Muối, sắt, cá; Nguồn gốc rượu cần... Huyền thoại cho biết mẹ Ka Grup (hoặc Ka Rup) lấy chồng Kon Chau (Con Người), đẻ ba chàng trai, ba chàng trai nói sau này sẽ có muối, sắt, cá... Mọi người trong làng cho đó là chuyện lạ, đã nghi ngờ ba người đó là malai. 

Họ buộc phải chết và xin được chết ở những miền khác nhau, hóa thân thành ba vật lạ cần thiết cho cư dân sau này là muối, sắt, cá. Hoặc huyền thoại khác cho biết mẹ Ka Grau đã ngủ mơ thấy ông già bỏ vào tay mình những thứ hạt giống lạ, tỉnh dậy có hạt giống, gieo xuống đất thì mọc lúa, bắp, cà, ớt. Đó là truyện về nguồn gốc lương thực, thực phẩm, gia vị. Từ xa xưa người Mạ đã biết trồng lúa, săn thú và hái lượm để phục vụ cho bữa ăn hàng ngày. Trước mỗi bữa ăn, lúa được đưa vào cối để giã. Mỗi lần giã chỉ được vài lon gạo, họ sàng bỏ đi phần trấu và cho gạo vào nồi nấu chín. Cơm thường được ăn với rau rừng, chủ yếu là rau nhíp, nấm hoặc đọt mây.

 

TỤC GIÃ GẠO NGƯỜI K’HO

 

Từ xa xưa, chiếc cối giã gạo là vật dụng không thể thiếu trong các gia đình K’ho. Không biết chính xác từ bao giờ, nhưng từ đời này truyền đời khác, chiếc cối giã gạo đã gắn liền với đời sống của đồng bào. Trước đây, khi cuộc sống còn nhiều khó khăn, hầu như gia đình nào cũng có chiếc cối giã gạo và việc giã gạo nấu cơm cho các thành viên trong gia đình đều do người phụ nữ đảm nhận. Sau một ngày lên nương rẫy, các chị, các mẹ lại giã gạo nấu cơm cho cả gia đình. Khi giã gạo, người phụ nữ thường đứng chụm hai bàn chân khít vào nhau, khi nện chày xuống thì lưng người gập theo, khi rút chày lên thì hít hơi lấy sức, thót bụng lại và ngực ưỡn ra trước. Chính điều này tạo nên tư thế nhún nhảy, điệu đà thật đẹp mắt. Nhìn chung, mỗi bộ cối giã gạo của đồng bào gồm có chày và cối. Cối có chiều cao từ 40-50 cm được đục đẽo ở giữa tạo nên lòng cối.

 

Nguyên liệu chủ yếu được làm từ cây lộc vừng cạn-một loại cây mọc trong rừng, khi cây còn tươi thì gỗ rất dẻo, khi khô thì cứng như đá nên rất khó vỡ, nứt nẻ. Mỗi chiếc cối có chiều cao, độ sâu và rộng phụ thuộc vào ý muốn của gia chủ. Phía ngoài thường được bào nhẵn, đôi khi cũng được đục đẽo thêm các hoa văn, họa tiết. Mỗi cối có hai chiếc chày, được làm bằng gỗ cây kơnia hoặc gỗ hương, dài chừng 1,5m và chày to hay nhỏ tùy thuộc vào tay cầm của người sử dụng. Giữa thân chày có khắc sâu thêm vài vòng tròn để khi cầm không bị trơn. Ngày nay, cuộc sống đã có nhiều đổi thay và máy xay xát lúa đã có mặt khắp các bon làng nên cối giã gạo không còn sử dụng nhiều như trước nữa. Thế nhưng, nhiều gia đình vẫn trân quý, cất giữ những chiếc cối, chiếc chày vào một góc nhà để lưu giữ kỷ vật, thi thoảng mang ra giã gạo, chế biến một số món ăn truyền thống của dân tộc mình, hoặc tham gia các cuộc thi ẩm thực dân gian.

 

Nhịp chày giã gạo không chỉ đơn thuần là động tác lao động tạo ra hạt gạo lo cho bữa ăn của mỗi gia đình hàng ngày, mà nó còn thể hiện sự no ấm, sung túc của bon làng, dù cuộc sống ngày nay có nhiều đổi thay, nhưng nhịp chày giã gạo vẫn là âm thanh sống động, đi cùng với cồng chiêng, làm nên bản sắc văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc.